Ngóng hành lang pháp lý cho Fintech
Thị trường Fintech Việt Nam sẽ đạt 18 tỷ USD năm 2024
Fintech đã và đang có vai trò ngày càng quan trọng đối với việc phát triển của thị trường tài chính, ngân hàng. Dù chưa hoàn thiện hành lang pháp lý, nhưng lượng người dùng Fintech cũng như các doanh nghiệp trong lĩnh vực này không ngừng tăng lên.
Các báo cáo cho thấy, trước năm 2015, số lượng công ty Fintech tại Việt Nam chỉ 39, nhưng đến năm 2022, số lượng công ty Fintech đã tăng lên 260. Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, dự báo thị trường Fintech ở Việt Nam sẽ chạm mốc 18 tỷ USD vào năm 2024.
Theo số liệu của Nextrans, trong số hơn 260 công ty Fintech tại Việt Nam, có 81 công ty hoạt động trong mảng dịch vụ thanh toán, 42 công ty hoạt động trong mảng cho vay ngang hàng (P2P Lending), 31 công ty mảng Blockchain/Crypto (tiền điện tử) (11,9%)…
PGS.TS Nguyễn Tiến Thuận - Học viện Tài chính cho biết, Fintech đang thay đổi cách thức thực hiện các chức năng của hệ thống tài chính.
Theo ông Thuận, các giao dịch ngân hàng được thực hiện bằng thiết bị di động nhiều hơn. Ngày càng nhiều người dùng thiết bị di động để giao dịch, vay nợ, đầu tư, thay vì chỉ để kiểm tra tài khoản như trước kia. Chưa kể, Fintech cũng cá nhân hoá nhu cầu mua sắm cho từng khách hàng khi tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu mua sắm khách nhau của từng cá nhân.
Theo các chuyên gia, Việt Nam hiện có lợi thế nhất định về cơ sở hạ tầng cho Fintech khi nằm trong Top 12 quốc gia có giá thành internet rẻ toàn cầu; 70% dân số sử dụng internet, 145,8 triệu thuê bao đăng ký điện thoại (150% dân số) trong đó 95% là điện thoại thông minh, tỷ lệ sử dụng các mạng xã hội đạt 73%...
Tuy nhiên, ông Thuận đánh giá, quá trình ứng dụng Fintech trong các dịch vụ tài chính toàn diện ở Việt Nam hiện nay vẫn khá nhiều thách thức.
Cụ thể, nhận thức về Fintech của người dân còn hạn chế, bị cạnh tranh bởi chính những đối thủ có tiềm năng, nền tảng lớn. Việc thiếu hành lang pháp lý cũng như hạ tầng công nghệ ở vùng sâu, vùng xa. Chưa kể, đi kèm sự thuận lợi thì Fintech cũng kéo theo những nguy cơ rủi ro về an toàn thông tin.
Thêm nữa, sự kết nối giữa các chủ thể như cơ quan quản lý, các định chế tài chính, doanh nghiệp Fintech và các doanh nghiệp tham gia hoạt động này cũng chưa gắn kết chặt chẽ. Đa số doanh nghiệp Fintech ở Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, quy mô khiêm tốn, rất nhiều doanh nghiệp chưa đạt điểm hoà vốn, chỉ khoảng 10% số doanh nghiệp có lợi nhuận.
Chưa kể, Fintech là lĩnh vực mới và phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể gây ra những tổn thất lớn trên thị trường. Các loại hình dịch vụ Fintech như cho vay ngang hàng trực tuyến, gọi vốn cộng đồng, tiềm ẩn các rủi ro đối với nhà đầu tư. Một số nền tảng cho vay ngang hàng không minh bạch dữ liệu về danh mục cho vay…
Ngóng hành lang pháp lý cho Fintech
Nêu giải pháp phát triển Fintech ở Việt Nam trong thời gian tới, PGS.TS Nguyễn Tiến Thuận cho hay, các cơ quan quản lý nhà nước cần nắm bắt xu hướng, xây dựng các chính sách hỗ trợ về tài chính, thuế… để tạo điều kiện cho Fintech phát triển. Đặc biệt, cần xây dựng khuôn khổ pháp lý cho các Fintech thử nghiệm các công nghệ tài chính mới trong môi trường được kiểm soát trước khi tung ra thị trường.
“Mặc dù các công ty Fintech luôn có khát vọng tăng trưởng mạnh mẽ nhưng những thách thức lớn về tài chính đã giết chết nhiều Fintech còn non trẻ. Để các doanh nghiệp Fintech sống được trên thị trường Việt Nam cũng không phải là điều dễ dàng”, ông Thuận nói.
Ông Thuận cũng chia sẻ rằng, Nhà nước cần đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ cũng như có chính sách quản lý phù hợp để các công ty Fintech được hoạt động trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, bền vững cùng hệ thống ngân hàng; ban hành chuẩn kết nối giữa các định chế tài chính và Fintech. Đối với các định chế tài chính, khi ứng dụng Fintech cần đảm bảo các quy trình quản lý rủi ro đầy đủ và toàn diện.
Theo ông Thuận, sự gia tăng cạnh tranh đến từ các công ty Fintech đồng nghĩa với sự xuất hiện của hàng loạt rủi ro đến từ công nghệ. Vì vậy để cùng sống và phát triển, cần có sự hiểu biết lẫn nhau, chuyển từ cạnh tranh sang hợp tác cùng phát triển giữa công ty Fintech và ngân hàng.
Đối với hành lang pháp lý cho Fintech, Nghị định về Sandbox cho lĩnh vực này đang được cộng đồng rất trông chờ, nhưng việc ban hành đang chậm hơn dự kiến. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước mới đang lấy ý kiến công chúng đối với Dự thảo Nghị định quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.
Theo Ngân hàng Nhà nước, sự phát triển nhanh chóng của Fintech đã khiến cơ quan quản lý đối mặt với những khó khăn, thách thức trong quản lý, giám sát. Trong đó đáng chú ý là nguy cơ rửa tiền và tài trợ khủng bố, an ninh mạng, dữ liệu người dùng, quyền lợi nhà đầu tư…
Đơn cử, trong hoạt động P2P Lending vừa qua, một số công ty lấy danh nghĩa mô hình này đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân để lừa đảo, hứa hẹn lãi suất cao để chiếm đoạt tài sản; hoặc quảng cáo vay ưu đãi lãi suất thấp nhưng thực tế mức lãi cao... Chưa kể, một số thỏa thuận giữa các bên tham gia trong mô hình P2P Lending thiếu minh bạch, thiếu cơ chế giám sát, hậu kiểm đối với việc sử dụng, quản lý vốn vay đúng mục đích của người đi vay, dẫn dến khiếu kiện, tranh chấp…
Theo Ngân hàng Nhà nước, thông qua nghị định này, Chính phủ tạo ra một cơ chế khuyến khích, tạo thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp phát triển các giải pháp, dịch vụ ngân hàng, mô hình kinh doanh mới dựa trên ứng dụng công nghệ; cho phép các tổ chức tín dụng, công ty Fintech được thử nghiệm các giải pháp Fintech mà quy định pháp lý hiện tại chưa hướng dẫn cụ thể...
Theo đó, 3 lĩnh vực là chấm điểm tín dụng; chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API); cho vay ngang hàng (P2P Lending) được thử nghiệm lần này, thời gian thử nghiệm tối đa 2 năm, thực hiện giới hạn trên lãnh thổ Việt Nam, không được thực hiện xuyên biên giới./.
- Mong mỏi ban hành sandbox cho fintech
- Startup fintech tích cực huy động vốn, hướng tới mở rộng mạng lưới hoạt động
- Ngỡ ngàng với cách Starbucks biến mình thành công ty Fintech